Nghiên cứu [ Đăng ngày (21/07/2019) ]
Nghiên cứu ảnh hưởng của các chủng vi khuẩn nội sinh đến cây cao su - Hevea brasiliensis giai đoạn vườn ươm
Cây cao su có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ và được nhập vào Việt Nam từ 1897. Cây cao su được trồng tập trung ở Đông Nam Bộ, kế đến là ở Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Hiện nay, sản phẩm chính của cây cao su là mủ để làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế tạo vỏ ruột xe, vật dụng đàn hồi, chống thấm... và gỗ làm hàng gia dụng, xây dựng.


Trong những năm gần đây, nhiều chủng vi khuẩn có khả năng cố định nitơ tự nhiên sống nội sinh trong rễ, thân, lá của những cây không thuộc cây họ đậu (ví dụ: Lúa, mía, bắp, cọ, dứa...) đã và đang được nghiên cứu phân lập tuyển chọn và ứng dụng. Tại Việt Nam, từ trước đến nay canh tác cây cao su chủ yếu phụ thuộc vào phân bón đạm vô cơ. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân đạm vô cơ không những làm cây cao su dễ mẫn cảm với dịch hại, giảm năng suất, giảm hiệu quả kinh tế mà còn gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng các chủng vi khuẩn có khả năng cố định nitơ sẽ góp phần đáng kể cho việc giảm chi phí đầu tư và giảm ô nhiễm môi trường trong canh tác cây cao su. Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, một nghiên cứu của Đoàn Phạm Ngọc Ngà và ctv. về ảnh hưởng của các chủng vi khuẩn nội sinh đến cây cao su - Hevea brasiliensis giai đoạn vườn ươm được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc tuyển chọn các chủng vi khuẩn cố định nitơ tiềm năng kích thích sự tăng trưởng của cây cao su giai đoạn vườn ươm. 

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của bốn chủng vi khuẩn nội sinh Enterobacter asburiae, Stenotrophomonas maltophilia, Bacillus safensis và Rhizobium freirei đến cây cao su (Hevea brasiliensis) giai đoạn vườn ươm.
Kết quả nhận được cho thấy, bốn chủng có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm (P ≤ 0,01), tỷ lệ nảy mầm cao nhất nhận được khi ủ hạt cao su với chủng Bacillus safensis và thấp nhất khi xử lý hạt bằng Rhizobium freirei. Ngược lại, kết quả phần trăm hạt nảy mầm không có sự khác biệt thống kê (P > 0,05). Hạt được ủ với bốn chủng vi khuẩn ở mật độ 109 CFU/túi cho kết quả cao nhất về chiều dài rễ, chiều dài thân mầm, chiều cao và trọng lượng khô của cây (P < 0,01). Kết quả đánh giá bằng kỹ thuật đánh dấu đồng vị N-15 trên cây cao su giai đoạn vườn ươm cho thấy, %N có nguồn gốc từ không khí do Enterobacter asburiaeS
tenotrophomonas maltophilia đóng góp đạt 46,43-47,62%; trong khi, Bacillus safensisRhizobium freirei đạt 35,71-38,69%.

Vân Anh
Theo Tạp chí KHCN Việt Nam, Tập 60 - Số 5 (5/2018)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn
    Nghiên cứu
Lên đầu trang
© Copyright 2013 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - P.Cái Khế - Q.Ninh Kiều - TPCT
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.canthostnews.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Lượt truy cập: