Nghiên cứu [ Đăng ngày (25/03/2020) ]
Rối nhiễu tâm trí ở học sinh trung học cơ sở tại thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Thị Kim Châu - Khoa Y tế Công Cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phước và Tô Gia Kiên - Bộ môn Tổ chức – Quản lý y tế, Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh thực hiện.


Ảnh minh họa.

Rối nhiễu tâm trí (RNTT) là nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng gánh nặng bệnh tật khi làm mất đi 183,9 triệu DALY mỗi năm (năm 2010). RNTT ở trẻ em và trẻ vị thành niên rất cần được quan tâm vì gây ra những ảnh hướng xấu đến đời sống hiện tại và các giai đoạn tiếp theo của trẻ. Nhiều bằng chứng cho thấy các RNTT ở trẻ nếu không được can thiệp kịp thời có thể dẫn đến các hậu quả xấu như bị bạn bè, người thân xa lánh; bỏ học; bỏ nhà đi lang thang; thậm chí dẫn đến tự tử cũng như có liên quan đến tình trạng thất nghiệp, kết quả học tập kém, nghiện chất và vấn đề về tội phạm sau này. Tác giả Polanczyk sau khi tổng hợp 42 nghiên cứu từ 27 quốc gia ở tất cả các vũng lãnh thổ cho thấy khi so sánh với các bệnh mạn tính khác ở trẻ như đái tháo đường và hen suyễn, tỉ lệ mắc cao và những hậu quả xấu do RNTT mang lại làm cho nó trở thành vấn đề sức khỏe ưu tiên chính ở trẻ. Bên cạnh đó, trẻ hiện nay đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ của RNTT khi áp lực học tập, bạo lực, đánh nhau, bắt nạt trong trường học; rối loạn cảm xúc và sự kiểm soát của gia đình đã cho thấy mối liên quan đến tỉ lệ RNTT ở trẻ. Những điều này chỉ ra rằng, trẻ em, đặc biệt là các trẻ đến trường, sẽ tiếp xúc với nhiều nguy cơ RNTT hơn các trẻ khác trong cộng đồng và các yếu tố từ nhà trường và gia đình có liên quan mật thiết đến tình trạng RNTT ở trẻ. Tại Việt Nam, sự quan tâm của cộng đồng về vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh đang gia tăng nhanh chóng. Nghiên cứu của Harpham và Tran cho thấy cứ 5 người trẻ tại Việt Nam thì có một người có vấn đề về sức khoẻ tâm thần. Vấn đề RNTT ở học sinh trung học cơ sở (THCS) tại Việt Nam rất đáng lo ngại khi các nghiên cứu thực hiện tại Hà Nội, Lâm Đồng và Đồng Nai cho thấy tỉ lệ RNTT học sinh THCS dao động từ 25,76% đến 37,4%. Đáng chú ý hơn, một nghiên cứu thực hiện trên học sinh trung học tại Cần Thơ cho thấy có 26,3% học sinh trả lời thực sự có ý định tử tử; trong đó, có 12,9% có lên kế hoạch tự tử và 3,8% đã thực hiện việc tự tử. Những điều trên cho thấy vấn đề RNTT ở các học sinh THCS cần được quan tâm đúng mức để có những hành động kịp thời nhằm phòng ngừa và hạn chế những hậu quả xấu do RNTT mang lại. Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định tỉ lệ RNTT ở học sinh THCS; đồng thời xác định các yếu tố liên quan để trên cơ sở đó đề ra những biện pháp can thiệp phù hợp nhằm hạn chế các yếu tố nguy cơ cũng như cải thiện sức khỏe tâm thần cho học sinh.

Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ học sinh trung học cơ sở có rối nhiễu tâm trí và các yếu tố liên quan tại thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh năm 2017.

Nghiên cứu các học sinh đang theo học tại trường THCS Nguyễn Tri Phương, TP. Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Các học sinh được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm. Theo đó, chọn ngẫu nhiên hai lớp trong tổng số năm lớp của của mỗi khối lớp 6, 7, 8, 9. Sau đó, khảo sát tất cả các học sinh trong các lớp được chọn. Tất cả các học sinh tại các lớp được chọn và đồng ý tham gia được đưa vào nghiên cứu. Nghiên cứu tiến hành 2 đợt khảo sát trong thời gian từ tháng 3/2017 đến tháng 7/2017. Các học sinh vắng mặt cả 2 lần khảo sát sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu. Các đợt khảo sát được tiến hành khi học sinh kết thúc kỳ thi học kỳ 2 trong trường (từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2017). Sau khi đã được giải thích mục tiêu nghiên cứu, được sự đồng ý của ban giám hiệu và các giáo viên chủ nhiệm, các học sinh thỏa các tiêu chí chọn mẫu được yêu cầu ký xác nhận vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu. Thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền, bao gồm đặc điểm của học sinh (giới, khối lớp, học lực); thang đo RNTT (bộ câu hỏi SDQ25), các vấn đề về áp lực học tập (áp lực học tập, lo lắng trước các kỳ thi, đánh giá về chương trình học, sự kỳ vọng của cho mẹ); sự kiểm soát của gia đình (sự kiểm soát, ép đi học thêm, thời gian học thêm, can thiệp vào mối quan hệ bạn bè); vấn đề bạo lực, bắt nạt, cảm xúc tiêu cực và tình bạn như bị đánh, đánh nhau, bị bắt nạt, cô đơn, lo lắng quá mức, khó tập trung, có bạn thân, ý định tự tử, được học về biểu hiện tiêu cực được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi khảo sát hành vi sức khoẻ trên toàn cầu của Tổ chức sức khoẻ thế giới. Ngoài ra, nghiên cứu cũng khảo sát mối liên quan giữa RNTT với tỉ lệ học sinh có ý định tự tử hoặc có những ý định tử tự dẫn đến tổn thương. Thang đo SDQ là bộ câu hỏi hỏi về những “điểm mạnh” và “khó khăn” trong những hành vi ngắn gọn của trẻ từ 3-16 tuổi được Goodman phát triển năm 1997. Nghiên cứu này sử dụng công cụ SDQ25 dành cho trẻ em tự đánh giá được Trần Tuấn và các cộng sự chuẩn hóa bằng tiếng Việt. Bộ công cụ này có độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao và đã được sử dụng trong nghiều nghiên cứu ở Việt Nam. Thang đo gồm 25 câu hỏi và được chia thành 5 loại hành vi: rối nhiễu giao tiếp xã hội (prosocial behaviour), tăng động giảm chú ý (hyperactivity/inattention), rối nhiễu cảm xúc (emotional symptoms),  rối nhiễu hành vi (conduct problems) và rối nhiễu quan hệ bạn bè (peer relationship problems). Các câu hỏi về cảm nhận sức khỏe của trẻ trong 6 tháng qua và được tính điểm từ 0 đến 2 điểm cho từng câu; trong đó, 0 điểm được tính khi trả lời là “không đúng”, 1 điểm là “có thể đúng” và 2 điểm khi trả lời là “rất đúng”. Có 5 câu hỏi về rối nhiễu giao tiếp xã hội được cho điểm ngược lại. Điểm RNTT chung sẽ bẳng tổng điểm của các rối nhiễu tăng động giảm chú ý, rối nhiễu cảm xúc, rối nhiễu hành vi và rối nhiễu quan hệ bạn bè. Học sinh được xem là có RNTT khi tổng điểm RNTT ≥14 điểm. Phân tích thống kê các phiếu khảo sát sau khi thu thập sẽ được làm sạch. Các phiếu không trả lời đầy đủ 25 câu hỏi trong bộ SDQ25 hoặc bỏ trống từ 2 câu trở lên trong toàn bộ bộ câu hỏi sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu. Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý bằng Stata 13.0.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng cộng có 279 học sinh được đưa vào nghiên cứu. Tỉ lệ học sinh có rối nhiễu tâm trí là4,4%; trong đó, rối nhiễu cảm xúc chiếm tỉ lệ cao nhất (11,8%), tiếp đến là tăng động giảm chú ý (8,2%) và thấp nhất là rối nhiễu quan hệ bạn bè (4,7%). Các học sinh lớp 7 và lớp 9 có tỉ lệ RNTT cao gấp lần lượt 1,78 lần (p=0,033) và 1,95 lần (p=0,012) so với học sinh lớp 6. Các yếu tố có liên quan đến RNTT là sự lo lắng trước các kỳ thi (p=0,024); đánh giá chương trình học nặng hoặc rất nặng (p<0,001) có cha mẹ can thiệp vào mối quan hệ bạn bè (p=0,021); bị đánh (p=0,004); bị bắt nạt (p<0,001) bị bắt nạt bằng những hình thức khác (p=0,008); cảm thấy cô đơn (p=0,003); có lo lắng quá mức (p=0,001). Có mối liên quan giữa RNTT với tỉ lệ học sinh có ý định tự tử (p<0,001) hoặc có ý định tự tử dẫn đến bị thương, ngộ độc hay sử dụng thuốc quá liều mà phải đến bác sĩ hoặc y tá (p=0,001). Tỉ lệ rối nhiễu tâm trí ở học sinh trung học cơ sở cao và có nhiều yếu tố có liên quan từ phía gia đình và nhà trường. Bên cạnh đó, RNTT có liên quan đến việc gia tăng tỉ lệ học sinh có những suy nghĩ về tự tử. Do đó, những biện pháp can thiệp phù hợp cần được thực hiện nhằm làm giảm gánh nặng của bệnh và phòng ngừa các yếu tố nguy cơ cho học sinh.

ntptuong
Theo Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, tập 23, số 5/2019
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn
    Nghiên cứu
Lên đầu trang

© Copyright 2013 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - P.Cái Khế - Q.Ninh Kiều - TPCT
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.canthostnews.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Lượt truy cập: