Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (29/03/2020) ]
Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của các nguồn gen lúa thu thập tại Thanh Hóa
Nghiên cứu do nhóm tác giả Vũ Đăng Toàn, Phan Thị Nga, Bùi Thị Thu Huyền, Vũ Đăng Tường, Lã Tuấn Nghĩa, Dương Thị Hồng Mai, Ngô Đức Thể (Trung tâm Tài nguyên thực vật) được thực hiện từ 2012 đến 2015 tại Trung tâm Tài nguyên thực vật - An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội.


Ảnh minh họa

Xây dựng và mở rộng ngân hàng gen mẫu giống lúa (Oryza sativa L.) có vai trò quan trọng trong công tác gìn giữ, chọn tạo và phát triển các giống lúa mới (Zeng et al.,2003). Tuy nhiên, các mẫu giống lúa được thu thập và lưu giữ không đồng nhất về đặc tính nông sinh học và thường bao gồm một số kiểu gen trong một quần thể (Frankel and Soule, 1981). Do vậy, khảo sát đánh giá và thiết lập cơ sở dữ liệu nguồn gen lúa được xác định là công việc thường xuyên nhằm tìm được các mẫu giống lúa có kiểu gen và tính trạng hữu ích, qua đó khai thác sự đa dạng di truyền và xác định những dòng triển vọng cho các chương trình chọn tạo giống lúa, góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai (Sajid et al., 2015).

Đối với công tác chọn tạo giống lúa thuần, thiết lập vật liệu khởi đầu là các nguồn biến dị trên cơ sở kiểu gen có sẵn trong tự nhiên hoặc thông qua các hình thức nhân tạo như lai tạo, tạo đột biến... có vai trò quyết định đến kết quả chọn tạo giống (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2007). Trong đó, tiềm năng di truyền của vật liệu nhân giống, dù là nguồn gen tự nhiên hay được phát triển bằng phương pháp nhân giống truyền thống hoặc kỹ thuật di truyền hiện đại, đều cần được đánh giá dựa trên các biểu hiện kiểu hình trong môi trường/vùng sinh thái cụ thể (Redoña, 2013).

Nghiên cứu đa dạng di truyền dựa trên chỉ thị hình thái là phương pháp đánh giá thông qua các đặc điểm hình thái (hình dạng, kích thước, đặc điểm các bộ phận) (Vu et al., 2013) với ưu điểm là dễ dàng tiếp cận, không đòi hỏi các thiết bị đắt tiền cũng như quy trình phức tạp. Hiện nay phương pháp này vẫn được sử dụng phổ biến trên cây trồng để giúp các nhà nghiên cứu phân biệt các giống khác nhau bằng mắt thường. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ thị hình thái trong phân tích đa dạng di truyền có những hạn chế. Vì thế, cho đến nay các nhà chọn giống thường kết hợp sử dụng các chỉ tiêu hình thái với việc xác định bằng chỉ thị sinh hoá và chỉ thị phân tử ADN để đạt được kết quả chính xác hơn (Lã Tuấn Nghĩa, 2000; Zeng, D-L et al.,2003).

Trong nghiên cứu này, 300 nguồn gen lúa được thu thập từ các địa phương khác nhau của Thanh Hóa đã được đánh giá về đặc tính nông sinh học và chỉ tiêu năng suất. Qua đó, các nguồn gen lúa sẽ được lựa chọn làm nguồn vật liệu khởi đầu phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa mới đáp ứng nhu cầu thực tế sản xuất của vùng trong thời gian tới.

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tuần tự trong ô cơ sở diện tích 10 m2/mẫu giống (2 m˟ 5 m) với ba trăm nguồn gen lúa được thu thập từ các địa phương khác nhau của Thanh Hóa trên ruộng cạn, ruộng vàn, trên đồi núi và ruộng trũng với những kiểu canh tác đa dạng có tưới tiêu, ruộng trũng nước trời, ruộng sâu ngập nước hay ruộng đất cao nước trời.

Sinh trưởng của cây lúa được chia thành 9 giai đoạn như sau: nảy mầm; mạ; đẻ nhánh; vươn lóng; làm đòng; trỗ bông; chín sữa; vào chắc và giai đoạn cuối cùng là chín.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, Các tính trạng hình thái nông sinh học của 300 mẫu giống lúa địa phương thu thập tại Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng. Phần lớn các mẫu giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng trung ngày ở vụ Mùa, các mẫu giống thuộc loại hạt to, có nhiều nguồn gen có các yếu tố cấu thành năng suất tốt. Tập đoàn lúa có đặc điểm màu sắc vỏ gạo phong phú, có những mẫu giống có màu vỏ gạo đặc biệt như màu tím (22 mẫu giống), tím một phần (3 mẫu giống), màu đỏ (20 mẫu giống), màu nâu (3 mẫu giống), màu ánh nâu (6 mẫu giống), nâu nhạt (5 mẫu giống) có thể khai thác sản xuất gạo chất lượng. Kết quả đánh giá đa dạng di truyền bằng 42 tính trạng hình thái nông sinh học cho thấy hệ số tương đồng di truyền giữa các mẫu giống dao động trong khoảng từ 0,23 đến 0,81. Dựa vào hình của cây phân nhóm UPGMA, tại hệ số tương đồng di truyền 0,28 thì 300 mẫu giống lúa được chia thành 3 nhóm riêng biệt: nhóm I gồm 1 nguồn gen thứ tự 105 (SĐK 4754, Khẩu sáy khon); nhóm II bao gồm 6 mẫu giống lúa (203, 106, 150, 176, 161 và 75) ở hệ số tương đồng di truyền từ 0,29 đến 0,81; và nhóm III gồm 293 mẫu nguồn gen còn lại ở hệ số tương đồng di truyền từ 0,314 đến 0,81.Kết quả của nghiên cứu này góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu tiềm năng di truyền cho các nhà chọn giống trong khai thác các nguồn vật liệu phục vụ công tác nghiên cứu chọn tạo giống lúa theo các mục tiêu khác nhau.

NTD
Theo Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 2/2019
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn
    Nghiên cứu
Lên đầu trang

© Copyright 2013 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - P.Cái Khế - Q.Ninh Kiều - TPCT
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.canthostnews.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Lượt truy cập: