Nghiên cứu [ Đăng ngày (24/05/2019) ]
Thành phần dinh dưỡng của giun nhiều tơ (perinereis sp.) nuôi thương phẩm và tự nhiên: ứng dụng cho nuôi tôm bố mẹ
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Thu Hằng và Huỳnh Kim Quang - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III thực hiện.


Ảnh minh họa.

Giun nhiều tơ (Perinereis sp.), được sử dụng rộng rãi như là một loại thức ăn sống cho tôm bố mẹ nuôi trong các trại sản xuất nhằm mục đích nâng cao mức độ thành thục, chất lượng trứng và tinh trùng, đặc biệt là khi giun đang trong giai đoạn sinh sản, do chất lượng của giun trong giai đoạn này giúp tăng khả năng sinh sản của tôm.

Nghiên cứu giun nhiều tơ: Perinereis nuntia var. brevicirris có khối lượng trung bình 1,02g/con; P. nuntia có khối lượng trung bình 8,76g/con và Marphysa mossambica có khối lượng trung bình 10,47g/con, khai thác tự nhiên tại vùng biển Vạn Ninh, Khánh Hòa. Giun nhiều tơ: P. nuntia var. brevicirris thương phẩm có khối lượng trung bình 0,92g/ con được thu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nha Trang. Tất cả các mẫu giun đều được cho nhịn đói 2 ngày để giun tiêu hóa toàn bộ phần thức ăn trong hệ tiêu hóa sau đó chuyển vào giữ trong tủ âm sâu (-85ºC) trước khi phân tích mẫu. Mỗi mẫu giun nuôi thương phẩm và thu gom từ tự nhiên được phân tích lặp lại ba lần. Xác định hàm lượng protein, lipid, chất xơ và độ ẩm Xác định hàm lượng protein trong các mẫu giun theo phương pháp Kjeldalh. Hàm lượng lipid theo tiêu chuẩn ISO 6492: 1999, hàm lượng chất xơ theo phương pháp AOCS Ba-6a-05 và độ ẩm theo phương pháp EC 152/2009. Xác định hàm lượng axít béo theo tiêu chuẩn ISO 5508/5509:2000 và xác định hàm lượng axít amin theo phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC). Xử lý số liệu thu thập trên phần mềm Microsoft Excel, SPSS phiên bản 16.0 để so sánh các giá trị trung bình theo phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (one way ANOVA). So sánh sự khác nhau giữa các giá trị trung bình sau phân tích phương sai (post hoc test) bằng phép kiểm định Duncan với độ tin cậy 95% (p<0,05).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng protein, lipid có trong mẫu giun P. nuntia var. brevicirris từ nguồn nuôi thương phẩm đạt 13,19% và 3,64% cao hơn trong các mẫu giun thu ngoài tự nhiên. Hàm lượng các axít amin, axít béo có trong mẫu giun P. nuntia var. brevicirriss từ nguồn nuôi thương phẩm cao hơn trong các mẫu giun thu ngoài tự nhiên. Giun nhiều tơ nuôi thương phẩm là nguồn thức ăn tươi thích hợp và an toàn trong nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ. Tiếp tục nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng giun P. nuntia var. brevicirris phục vụ nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ.

nnttien
Theo Tạp chí KH-CN Thủy sản, số 1/2019
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn
    Nghiên cứu
Lên đầu trang
© Copyright 2013 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - P.Cái Khế - Q.Ninh Kiều - TPCT
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.canthostnews.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Lượt truy cập: