Nghiên cứu [ Đăng ngày (09/09/2020) ]
Thực thi quyền SHTT theo CPTPP, EVFTA và yêu cầu đối với Việt Nam
Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã tham gia ký kết một số hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, trong đó phải kể đến hai hiệp định quan trọng là: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Bên cạnh những nội dung như thương mại, đầu tư, tài chính, viễn thông, môi trường…, sở hữu trí tuệ (SHTT) là vấn đề quan trọng của cả hai Hiệp định. Các cam kết SHTT nói chung và thực thi quyền SHTT nói riêng trong CPTPP và EVFTA ở mức độ cao, toàn diện, phạm vi các vấn đề điều chỉnh đa dạng hơn và nâng cao mức bảo hộ quyền SHTT so với chuẩn mực quốc tế được thiết lập trước đó. Bên cạnh cơ hội, những tiêu chuẩn bảo hộ, thực thi quyền SHTT trong các Hiệp định này cũng đặt ra không ít yêu cầu, thách thức đối với Việt Nam.


Thực thi quyền SHTT theo CPTPP

CPTPP là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên và có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14/1/2019. Trong CPTPP, nội dung thực thi quyền SHTT được quy định tại Chương 18, từ Điều 18.71 đến Điều 18.82.

Về biện pháp thực thi dân sự:

Về biện pháp thực thi dân sự: Hiệp định dành nhiều quy định cho vấn đề bồi thường thiệt hại và biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thủ tục tố tụng dân sự (Điều 18.74 và 18.75). Về bồi thường thiệt hại, các nước thành viên cam kết quy định mức bồi thường nhằm bù đắp thiệt hại mà chủ thể quyền phải gánh chịu và có tính răn đe.

Về biện pháp hành chính: Mặc dù biện pháp hành chính được ghi nhận trong Hiệp định, nhưng không có cam kết cụ thể của các quốc gia về biện pháp thực thi quyền SHTT này.

Về biện pháp kiểm soát biên giới: Hiệp định quy định thẩm quyền mặc nhiên cho cơ quan hải quan trong thực thi quyền SHTT. Cụ thể, cơ quan hải quan có quyền tiến hành thủ tục kiểm soát biên giới đối với hàng hoá nhập khẩu, tập kết để xuất khẩu và hàng hoá quá cảnh đối với hàng hoá bị nghi ngờ giả mạo nhãn hiệu hoặc sao chép lậu quyền tác giả mà không cần có đơn yêu cầu xử lý của chủ thể quyền hoặc bên thứ ba (Điều 18.76.5).

Về biện pháp hình sự: CPTPP được cho là hiệp định thương mại tự do bao gồm những quy định khắt khe nhất về thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hình sự (các Điều 18.77-18.79). Theo đó, mỗi quốc gia phải quy định các thủ tục và hình phạt để áp dụng ít nhất trong các trường hợp cố ý giả mạo nhãn hiệu hoặc sao lậu quyền tác giả và quyền liên quan ở quy mô thương mại.

Thực thi quyền SHTT trong môi trường kỹ thuật số: Hiệp định yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng thủ tục thực thi dân sự, hành chính và hình sự như đã nêu trên đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số (Điều 18.71.2). Đồng thời, Hiệp định quy định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ Internet (Điều 18.81). Theo đó, nhà cung cấp dịch vụ Internet phải nhanh chóng dỡ bỏ hoặc dừng cho truy cập vào các dữ liệu được lưu trữ trong hệ thống của mình ngay khi biết là dữ liệu đó vi phạm SHTT rõ ràng.

Thực thi quyền SHTT theo EVFT

EVFTA là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU. EVFTA, cùng với CPTPP là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay. Hiệp định được ký kết ngày 30/6/2019, được phê chuẩn bởi Nghị viện châu Âu vào ngày 12/2/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào ngày 8/6/2020, có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2020. EVFTA được đánh giá là toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong đó có các quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (TRIPs).

Về biện pháp dân sự: các quy định về quyền nộp đơn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, chứng cứ, bồi thường thiệt hại được quy định khá chi tiết trong EVFTA. Theo đó, người có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp dân sự xử lý xâm phạm quyền SHTT được quy định tại Điều 12.44 mở rộng, theo đó bao gồm: (i) Chủ thể quyền SHTT phù hợp với các quy định của pháp luật được áp dụng; (ii) Tất cả những người được phép sử dụng những quyền SHTT đó; (iii) Tổ chức quản lý tập thể quyền SHTT; và (iv) Tổ chức nghề nghiệp.

Về biện pháp kiểm soát biên giới: khi thi hành các biện pháp tại biên giới nhằm thực thi quyền SHTT, các Bên phải bảo đảm sự phù hợp với các nghĩa vụ theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994 và TRIPS, cụ thể là Điều V của GATT 1994, và Điều 41 và Mục 4 Phần III của TRIPS. Theo quy định tại Điều 12.59, cơ quan hải quan phải trên cơ sở các kỹ thuật phân tích rủi ro, chủ động trong việc phát hiện và xác định các chuyến hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu có nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT.

Thực thi quyền SHTT trong môi trường kỹ thuật số: EVFTA cũng bao gồm các quy định về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian (Điều 12.55). Theo đó, mỗi Bên phải quy định giới hạn hoặc miễn trừ trong pháp luật quốc gia liên quan đến trách nhiệm pháp lý của nhà cung cấp dịch vụ trung gian đối với việc xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan xảy ra trên mạng viễn thông liên quan đến việc cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian.

Yêu cầu đối với Việt Nam

Thứ nhất, về công tác xây dựng pháp luật:

Về cơ bản, các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành phù hợp với các quy định về thực thi quyền SHTT theo CPTPP và EVFTA. Đặc biệt, một số vấn đề đặt ra trong hai FTA này đã được nhấn mạnh trong Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược SHTT đến năm 2030. Tuy nhiên, cần phải rà soát Luật SHTT và các văn bản pháp luật liên quan để đảm bảo rằng những quy định pháp luật hiện hành được sửa đổi, bổ sung đáp ứng yêu cầu của CPTPP, EVFTA.

Thứ hai, về công tác hoàn thiện hệ thống các cơ quan thực thi quyền SHTT:

Các cơ quan có thẩm quyền thực thi quyền SHTT khá cồng kềnh hiện nay cần phải được điều chỉnh theo hướng: (i) Tinh giảm các cơ quan hành chính có thẩm quyền thực thi quyền SHTT; (ii) Nâng cao năng lực của các cơ quan công an, Tòa án, Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vi phạm SHTT.

Thứ ba, về công tác phối hợp:

Hoạt động phối hợp, một trong những tồn tại của hệ thống thực thi quyền SHTT tại Việt Nam trong nhiều năm cần tiếp tục được tăng cường. Trong đó, bên cạnh phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền thực thi, sự phối hợp giữa cơ quan thực thi trong nước với các cơ quan, tổ chức liên quan nước ngoài, giữa chủ thể quyền với cơ quan thực thi, các tổ chức quản lý tập thể, tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội, người tiêu dùng là yêu cầu cần phải thực hiện.

Thứ tư, về nâng cao nhận thức

Những quy định khắt khe của CPTPP và EVFTA đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân (Chính phủ, các bộ, ngành, doanh nghiệp, người tiêu dùng…) phải có nhận thức đầy đủ hơn về bảo hộ và thực thi quyền SHTT như: tôn trọng quyền SHTT của chủ thể khác, hiểu thế nào là xâm phạm quyền SHTT, những chế tài có thể bị áp dụng khi vi phạm…
Bài viết được tóm tắt từ bài viết cảu tác giả TS Nguyễn Như Quỳnh - Thanh Tra Bộ KH&CN

ntptuong
Theo Tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam số 08 năm 2020 (trang 4-8)
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn
    Nghiên cứu
Lên đầu trang

© Copyright 2013 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - P.Cái Khế - Q.Ninh Kiều - TPCT
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.canthostnews.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Lượt truy cập: