Nông - Lâm - Ngư nghiệp [ Đăng ngày (24/05/2019) ]
Nghiên cứu tạo vật liệu ban đầu phục vụ chọn giống tôm sú
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Hữu Hùng - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 3, Lại Văn Hùng- Trường Đại học Nha Trang và Phan Minh Quý, Đinh Hùng, Nguyễn Văn Hảo - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2 thực hiện.


Ảnh minh họa.

Tôm sú Penaeus monodon Fabricius (1798) là đối tượng thủy sản nuôi chủ lực của Việt Nam, đóng góp khoảng 40% tỷ trọng giá trị xuất khẩu thủy sản. Thách thức lớn nhất cho phát triển nghề nuôi tôm sú hiện nay là chưa chủ động được tôm bố mẹ. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, đã có nhiều tiến bộ đạt được trong việc nghiên cứu gia hóa, kép kín vòng đời tôm sú.

Bốn đàn tôm sú có nguồn gốc khác nhau được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II thu thập và thực hiện nghiên cứu gồm tôm tự nhiên từ Thái Lan; tôm tự nhiên từ Singapore; tôm tự nhiên ở Việt Nam; và tôm đã được gia hóa. Đàn tôm vật liệu được nuôi cách ly và sàng lọc sạch 4 loại bệnh virus (WSSV, YHV, IHHNV, LSNV). Số lượng tôm bố mẹ dùng làm vật liệu ban đầu cho chương trình chọn giống tôm sú. Tôm cái có khối lượng trung bình 177 g/con và tôm đực có khối lượng trung bình 102 g/con. Phương pháp Semi-nested PCR để sàng lọc bệnh đốm trắng (WSSV), multiplex PCR để sàng lọc bệnh hoại tử dưới vỏ và cơ quan tạo máu (IHHNV), RT-nested PCR để sàng lọc bệnh đầu vàng (YHV) và RT-PCR để sàng lọc hội chứng chậm lớn ở tôm sú (LSNV); các phương pháp và quy trình áp dụng theo OIE (2009). Tôm sú chọn giống thế hệ G0 được tạo ra từ tổ hợp lai tổ hợp toàn phần (1-7 gia đình/1 tổ hợp lai, do tỷ lệ sống một số gia đình không đảm bảo) của 4 đàn tôm vật liệu ban đầu (4 × 4 = 16 tổ hợp lai) gồm 4 tổ hợp lai cùng đàn (AA, TT, NN và GG) và 12 tổ hợp lai khác đàn gồm (AT, AN, AG, TA, TN, TG, NA, NT, NG, GA, GT, GN). Phương pháp nuôi vỗ thành thục, cho đẻ và ương nuôi ấu trùng được áp dụng theo quy trình của Trung tâm Khuyến ngư Trung ương (2006). Phương pháp đánh dấu cá thể: Khi khối lượng tôm ở các gia đình đạt cỡ 2-3g/con, tiến hành đánh dấu tôm theo từng gia đình. Phẩm màu phát xạ huỳnh quang (VIE) được dùng để đánh dấu cho tôm. Tôm được đánh dấu ở 2 trong 4 vị trí: đốt đuôi bên trái, đốt đuôi bên phải, đốt ngực bên trái và đốt ngực bên phải. Mỗi gia đình được đánh dấu bởi một tổ hợp màu khác nhau trên cơ sở phối trộn 2 trong 3 màu (Vàng, đỏ và xanh). Căn cứ vào mã màu của từng cá thể để truy xuất nguồn gốc các gia đình. Phương pháp nuôi tăng trưởng trong bể an toàn sinh học (ATSH): Các gia đình tôm sau khi đánh dấu 35 con/gia đình được phân ra bốn nhóm và nuôi chung trong 4 hệ thống bể nước chảy tuần hoàn đảm bảo an toàn sinh học. Mỗi bể tuần hoàn có diện tích 70 m², mật độ thả 8 con/m². Tôm được cho ăn thức ăn viên Unipresident 45% protein, ngày cho ăn 4 lần, lượng thức ăn cho ăn hàng ngày tương đương 3-4% khối lượng cơ thể tôm. Hàng ngày, theo dõi hoạt động của tôm và thường xuyên kiểm tra chất lượng nước. Phương pháp nuôi tăng trưởng trong ao đất ở các vùng địa lý khác nhau: Tôm ở các gia đình cũng được đánh dấu để nuôi chung trong các môi trường khác nhau trong ao tại Khánh Hòa (Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Trung-Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III), Bạc Liêu (Phân Viện Minh Hải-Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II) và Vũng Tàu (Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Nam Bộ-Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II). Ao nuôi có diện tích 1500 m² đối với ao nuôi tại Khánh Hòa, 2000 m²/ao đối với ao nuôi tại Bạc Liêu và Bà Rịa, Mỗi ao được ngăn thành 3 ô bằng lưới (lưới cước, mắt lưới 5 ly được ngăn theo chiều dọc của ao) có diện tích như nhau. Số lượng tôm sau đánh dấu trung bình 120 cá thể/gia đình được lấy ngẫu nhiên để thả nuôi trong các ao, mật độ thả 15 con/m², thả bổ sung tôm không đánh dấu cho đủ mật độ. Ao nuôi có bố trí dàn quạt khí, chế độ chăm sóc quản lý, cho ăn áp dụng quy trình nuôi thương phẩm tôm sú đang được nông dân áp dụng tại các địa phương. Tôm nuôi được cho ăn thức ăn viên công nghiệp Unipresident 45% protein, lượng thức ăn cho ăn hàng ngày tương đương 3-4% khối lượng tôm. Thời gian nuôi 80 ngày khi tôm đạt đến khối lượng trung bình 25 g/con thì tiến hành thu hoạch và thu số liệu sinh trưởng, tỷ lệ sống. Đo các yếu tố môi trường địa điểm: Ao nuôi tại Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Trung – Khánh Hòa và bể nuôi tại Trung tâm Quốc gia giống Hải sản Nam Bộ - Vũng Tàu. Thời gian: Quy trình nuôi áp dụng quy trình hạn chế thay nước nên các yếu tố môi trường được đo định kỳ 3 ngày/lần vào lúc 8 giờ và 14 giờ. Nhiệt độ nước (ºC) đo bằng nhiệt kế thủy ngân, pH đo bằng pH kế, độ mặn (‰) đo bằng khúc xạ kế và độ kiềm (mg/l) đo bằng phương pháp chuẩn đánh giá nước và nước thải – SMEWW 2320 – B. Phân tích và xử lý số liệu - Ước tính trung bình bình phương tối thiểu (LSM – least square mean): Thống kê mô tả được phân tích trên phần mềm SAS 9.3 (SAS Institute Inc., 2011). Mức độ ảnh hưởng (có hoặc không có ý nghĩa) đơn và tương tác của các yếu tố cố định trong mô hình toán được đánh giá dựa theo Type III sum of squares sử dụng hàm GLM (Mô hình tuyến tính tổng quát) với độ tin cậy 95%. Mô hình tuyến tính được chọn sau khi sàng lọc tất cả các ảnh hưởng đơn và ảnh hưởng tương tác của các yếu tố cố định.

Hầu hết tổ hợp lai giữa các đàn tôm cho kết quả sinh trưởng cao hơn so với tổ hợp lai cùng đàn tôm. Các tổ hợp lai giữa các đàn tôm có sự góp mặt của đàn tôm Gia hóa (G) cho kết quả sinh trưởng trưởng tốt nhầt. Tuy nhiên, tổ hợp lai giữa các đàn tôm với sự hiện diện của tôm tự nhiên Việt Nam cho kết quả sinh trưởng tốt và ổn định Các mối tương quan kiểu gen thuận, không chặt chẽ của tính trạng khối lượng thu hoạch ở những môi trường nuôi khác nhau cho phép dự đoán có tương tác kiêu gen – môi trường (G × E) ở mức độ nhẹ. Tương quan kiểu gen của tính trạng khối lượng ở mức trung bình (rg = 0,42) giữa nuôi trong bể an toàn sinh học với môi trường nuôi ao ở Bạc Liêu là nơi đại diện cho vùng nuôi chính của cả nước đặt ra yêu cầu cần duy trì và tăng cường hơn nữa tính đa dạng về kiểu gen của nguồn vật liệu này.

nnttien
Theo Tạp chí KH-CN Thủy sản, số 1/2019
In bài viết  
Bookmark
Ý kiến của bạn
Lên đầu trang
© Copyright 2013 Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Địa chỉ: 118/3 Trần Phú - P.Cái Khế - Q.Ninh Kiều - TPCT
Giấy phép số: 05/ GP-TTĐT, do Sở Thông tin và Truyền Thông thành phố Cần Thơ cấp ngày 23/5/2017
Trưởng Ban biên tập: Ông Vũ Minh Hải - Giám Đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ - Sở Khoa học & Công nghệ TP. Cần Thơ
Ghi rõ nguồn www.canthostnews.vn khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này
Lượt truy cập: